Diễn giả
Trịnh Huỳnh Ký (Phó giáo sư Khoa Lịch sử, Đại học Đông Ngô)
An Gia Phương (Phó giáo sư kiêm nhiệm, Viện Nghiên cứu Văn hóa Biển, Đại học Hàng hải Quốc gia Đài Loan)
Người chủ trì
Lý Dục Trung (Phó giáo sư, Viện Nghiên cứu Lịch sử, Đại học Thanh Hoa)
Bộ tộc nguyên cư bị lãng quên: Lịch sử cảng lao của Đại Gà Lồng
Bản thảo Manila bằng tiếng Tây Ban Nha hoàn thành khoảng thập niên 1590 có vẽ hình ảnh người Gà Lồng. (Nguồn: Wiki/Miền công cộng)
"Mỗi lần nói về Đại Gà Lồng, tôi đều lo lắng sẽ có ai trong khán phòng giơ tay nói họ là hậu duệ của bộ tộc này, nhưng nếu có thì xin hãy để lại số điện thoại." Với câu mở đầu hài hước này, Trịnh Huỳnh Ký nêu lên lý do chọn Kế Long làm địa điểm nghiên cứu vì các ràng buộc trong sinh hoạt nhưng không muốn từ bỏ công tác thực địa, đồng thời tiết lộ sự quan tâm lâu dài của mình đối với lịch sử và văn hóa biển của Kế Long.
Trịnh Huỳnh Ký đặc biệt chỉ ra rằng khi nói về lịch sử Kế Long, người ta thường chỉ tập trung vào "góc nhìn từ bên ngoài" như sự di cư của người Trương, Tuyền, hoạt động thương mại thời Thanh và phát triển cảng vụ dưới thời Nhật. Nhưng bộ tộc nguyên cư Đại Gà Lồng - những người sống lâu đời tại đây và tham gia quản lý các vùng nước - lại bị bỏ quên. Ông cho rằng giá trị lịch sử của Đại Gà Lồng không chỉ là dấu ấn của một bộ tộc trong quá khứ, mà còn là chốt mấu xây dựng trật tự địa phương và văn hóa biển.
Từ thế kỷ 17, Đại Gà Lồng tận dụng lợi thế vị trí địa lý và hiểu biết đường thủy để duy trì mối quan hệ giao dịch với những người ngoài cuộc. Những hạt men gốm có ý nghĩa tôn giáo và biểu tượng của tài wealth trong xã hội bộ tộc là những mặt hàng giao dịch quan trọng từ bên ngoài. Tình trạng này kéo dài cho đến thế kỷ 19. Ngay cả trong Chiến tranh Pháp-Thanh, mặc dù nhà nước ra lệnh cấm, họ vẫn bí mật buôn bán với quân đội Pháp. Từ các tài liệu cũng thấy rằng vào thế kỷ 17, Đại Gà Lồng cùng với Tân Bảo Miếu và Tamchồnzibelinhoặcchồnmarten xã tạo thành một vòng giao dịch, với Đại Gà Lồng chịu trách nhiệm vận chuyển hàng cho Tamchồnzibelinhoặcchồnmarten xã, rồi xã này tiếp tục chuyển vào phía nam tới vùng Ca-va-lan.
Tiến tới Hán hóa và chuyển đổi kinh tế
Sau thế kỷ 18, hoạt động giao dịch của Đại Gà Lồng dần mờ đi trong các ghi chép chính thức. Là một đế quốc nông nghiệp, nhà Thanh thường miêu tả các bộ tộc từ góc độ nông nghiệp. Bản đồ Đài Loan thời Càn Long viết: "Hiện nay từ Đại Gà Lồng xuống Mengjia bằng tàu tới Đại Gà Lồng thành, nơi đây người bản địa sống khổ, coi biển như cánh đồng, có chút canh tác ở Tân Bảo Miếu." Các quan chức vẽ bức tranh về sự nghèo khó với góc nhìn nông nghiệp, không còn đề cập đến hoạt động giao dịch thực tế. Tuy nhiên, lịch sử thực sự không phải như vậy - nhiều người trong bộ tộc vẫn sống trên đảo Xã Lão, kiểm soát đường thủy và tiến hành các hoạt động thương mại.
Với sự tấn công của số lượng lớn người Hán định cư, Đại Gà Lồng dần chịu ảnh hưởng từ nền kinh tế hàng hóa và chế độ đất đai chính thức. Tuy nhiên, người bộ tộc đã áp dụng chiến lược khéo léo trước những biến đổi mới này. Trong việc chiêu dụ đất canh tác, giai đoạn đầu chỉ mở các vùng miền núi hẻo lánh, cho đến thế kỷ 19 mới cấp phát vùng cảng, cho thấy sự khôn ngoan và cảnh báo trong việc bảo vệ lãnh thổ sống.
Đại Gà Lồng chọn kinh tế lâm nghiệp làm hướng chuyển đổi (Nguồn: Trịnh Huỳnh Ký)
Quản lý vùng nước đằng sau tiền dầu thơm
Vào thời kỳ Gia Khánh nhà Thanh, người Đại Gà Lồng và những người Hán định cư cùng thiết lập chế độ "thuê đèn thơm" tại đền Khánh An, yêu cầu những tàu bè và các hoạt động kiếm sống sử dụng vùng nước Gà Lồng phải nộp tiền thuê đèn thơm cho đền, phản ánh sự tham gia thực chất của họ vào quản lý vùng nước địa phương. Chế độ này hình thành vì vào đầu thế kỷ 19, cướp biển hoành hành, chính quyền Thanh khó phân biệt ngư dân với bọn cướp. Do đó, những người bộ tộc và người Hán sống trong vùng nước này sử dụng việc nộp hay không nộp tiền để phân biệt quyền sử dụng vùng nước và nhận diện kẻ cướp biển ngoài cuộc.
Vào thời đó, thương mại đối ngoại của Kế Long chủ yếu tập trung ở Bát Xích Môn, cho đến sau năm 1860 cảng Kế Long mới trở thành cảng thương mại đối ngoại. Cuối thời Thanh, đền Khánh An vẫn thu tiền dầu thơm từ các tàu bè vào cảng, với số tiền tính theo khối lượng hàng hóa, thực chất tương đương phí bảo vệ hoặc thuế cảng. Chế độ này thậm chí kéo dài tới thời kỳ Nhật, gây bực bội cho Nhật Bản, phản ánh bối cảnh tự quản lý lâu dài của xã hội địa phương.
Đền Khánh An Kế Long đóng vai trò quan trọng trong lịch sử cảng biển Kế Long (Nguồn: Hà Dạng Rực)
So sánh mô hình quản lý biển giữa Tây Ban Nha và Nhật Bản
Người Kế Long hướng tới biển sống, ở mỗi thời đại đều có thể khai thác tài nguyên và lợi ích từ biển, đặc biệt là bắt đầu từ đầu thế kỷ 20 khi Nhật Bản cai trị, có sự phát triển rõ rệt. An Gia Phương cho biết, từ năm 1899 trở đi, Nhật Bản tiến hành cải tạo quy mô lớn cảng Kế Long, không chỉ hiện đại hóa cảng mà còn cố gắng cắt đứt các mối thương mại truyền thống với Trung Quốc, đưa toàn bộ Đài Loan vào hệ thống kinh tế của đế quốc Nhật Bản. Phương thức quản lý biển hiện đại này, bắt nguồn từ nội địa và mở rộng ra ngoài, tương phản rõ rệt với cách làm của người Tây Ban Nha thời thế kỷ 17 khi lâm thời ở Kế Long. Vào thời đó, Tây Ban Nha nhằm mục đích truyền giáo và thực dân, thiếu lợi nhuận kinh tế thực sự, thậm chí phải dựa vào các quốc gia mẹ hỗ trợ sinh hoạt, cách làm thiên về trao đổi hàng hóa chứ không phải định hướng thị trường, đó cũng là lý do Tây Ban Nha không thể duy trì việc thuộc địa hóa Kế Long.
Sự bùng nổ hiện đại hóa ngành thủy sản
So với Tây Ban Nha, Nhật Bản quản lý Đài Loan với mục đích khai thác lợi ích kinh tế và tài nguyên, chiến lược tính toán phát triển cơ sở hạ tầng và hệ thống thương mại, thúc đẩy Kế Long hiện đại hóa, thể hiện sự khác biệt về tính hệ thống và kế hoạch dài hạn, dẫn tới sự bùng nổ hiện đại hóa ngành thủy sản.
Trước khi Nhật Bản đến, ngành thủy sản Đài Loan thường bị xem là lạc hậu về công nghệ, không có quy mô, thậm chí được gọi là "ngành thủy sản sơ khai". Là một cường quốc biển, Nhật Bản từ giai đoạn cai trị ban đầu đã cấy ghép các mô hình tiên tiến của mình sang Đài Loan. Theo thống kê, từ năm 1902 đến 1940, sản phẩm thủy sản Đài Loan phát triển vượt bậc: giá trị sản xuất cá tăng 71 lần, nuôi trồng tăng 9 lần, ngành công nghiệp chế biến thủy sản tăng 45 lần, tổng sản lượng thủy sản tăng 38 lần, khiến Kế Long trở thành trung tâm giao dịch thủy sản quan trọng của Đông Á.
Sự phát triển nhanh chóng của ngành thủy sản Đài Loan chủ yếu nhờ vào sự tham gia của vốn Nhật Bản và kiểm soát quyền bay tuyến hai bờ, nhưng sự phát triển không phải thuận lợi mà chịu ảnh hưởng của tình thế chính trị và địa-chính trị quốc tế. Trong Thế chiến I, do lực lượng phương Tây rút khỏi Đông Á, Nhật Bản và Đài Loan có cơ hội mở rộng xuất khẩu. Cá muối và cá khô từ Nhật Bản được vận chuyển sang Đài Loan rồi xuất khẩu ra ngoài, khiến Kế Long trở thành cảng trung chuyển quan trọng. Nhưng từ những năm 1920 trở đi, tình trạng tẩy chay hàng hóa Nhật và vụ Tế Nam thảm sát xảy ra liên tiếp, xuất khẩu giảm gần nửa. Trái lại, các sản phẩm nhập khẩu từ Mỹ và Canada như cá muối lạnh tăng nhanh do nhu cầu gia tăng. Sự biến động trong nguồn gốc sản phẩm và thương mại cho thấy giao dịch thủy sản Kế Long luôn chịu ảnh hưởng sâu sắc từ tình thế chính trị và địa-chính trị.
Kết thúc thời đại cá muối và bình minh của thời đại cá tươi
Khi công nghệ lạnh chưa phổ biến, cá muối là sản phẩm thủy sản quan trọng nhất Đài Loan, chiếm hơn 60% giá trị nhập khẩu. Công ty Nghĩa Long được thành lập chính là trong bối cảnh này, do Bành Bẹp sáng lập, sau đó do Bành Sáng Dũng và Bành Thạo Ngọc tiếp quản, chứng kiến lịch sử Kế Long thay đổi từ cá muối sang cá tươi. Năm 1978, Bành Thạo Ngọc nhận thấy xu hướng người dân chú trọng tới sức khỏe trong ăn uống, quyết định chuyển đổi toàn bộ sang thị trường cá tươi, hợp tác với các ngư dân ở bắc bờ biển như Bát Đấu Tử, Vạn Lý, Quy Hạo, thiết lập chuỗi cung ứng ổn định.
Trong toàn bộ hệ thống thủy sản, Kế Long không chỉ là cửa khẩu xuất khẩu mà còn là trung tâm trung chuyển. Sau khi hàng từ các thành phố Kobe, Otaru, Xiamen của Nhật Bản vận tới Kế Long, hàng được phân phối tới các thành phố Hạ Môn, Phúc Châu, Quảng Châu của Trung Quốc hoặc được vận chuyển khắp Đài Loan qua đường sắt. Các hình thức giao dịch linh hoạt đa dạng, bao gồm thiết lập chi nhánh ở nước ngoài, ủy thác đại lý, vận chuyển tàu thương mại, bán đại lý qua những thương nhân buôn lẻ hoặc chuyển bán cho các doanh nhân địa phương, tạo thành một mạng lưới phân phối "hình nhện".
Mặc dù trong thời kỳ Nhật, thị trường cá tươi bị độc quyền của phía Nhật, nhưng các doanh nhân địa phương Đài Loan vẫn chiếm chỗ đứng trong lĩnh vực cá muối và hàng khô. Sáu công ty Đài Loan lớn ở Kế Long - Tạ Dư Ký, Đài Loan Hải Lục Sản Phẩm, Trần Dư Phong, Lợi Ký, Trần Thái Thành và Nghĩa Long - đã xây dựng mạng lưới kinh doanh trải rộng trên ba vùng Nhật, Trung, Đài, hợp tác dài hạn với ngư dân, tạo thành chuỗi sản xuất-phân phối ổn định, thể hiện sức sống bền bỉ của các doanh nhân Đài Loan địa phương.
Đọc thêm: Công ty ủy thác và Cảng Kế Long: Con gà chỉ hướng gió dẫn đầu xu thế thời trang Đài Loan những thập niên 60-70
Sự tiếp nối đương đại của Đại Gà Lồng
Khán giả và các diễn giả trao đổi sâu sắc qua những câu hỏi (Nguồn: Ngô Nhiên Văn hóa)
Khi có khán giả hỏi liệu Đại Gà Lồng có tồn tại đến bây giờ, Trịnh Huỳnh Ký cho biết bộ tộc chưa biến mất nhưng phải đối mặt với sự ly tán và mất nhận dạng. Khi thời kỳ Nhật, hệ thống bộ tộc bị tháo gỡ, bộ tộc Bình Phủ hỗn sơ sinh sống cùng người Hán, thiếu bảo vệ chế độ, bị cô lập dần trong quá trình đô thị hóa. Hiện nay, trên đảo Hòa Bình vẫn còn một số cư dân họ Phan, họ Bạch được cho là hậu duệ của bộ tộc.
Khi có khán giả quan tâm tới mối quan hệ hợp tác giữa các doanh nhân Đài Loan và người Nhật thời kỳ Nhật, An Gia Phương chỉ ra rằng hai bên vừa hợp tác vừa cạnh tranh. Vào thời đó, thị trường cá muối do người Đài Loan dẫn dắt, công ty Nhật "Tam Hợp Thương Hội" từng cố gắng can thiệp để độc quyền nguồn hàng, nhưng sáu công ty Đài Loan lớn ở Kế Long nhanh chóng thành lập "Hội Cá Muối Kế Long", tổ chức liên minh để đối đầu, cuối cùng khiến người Nhật rút lui, thể hiện sự linh hoạt và tự chủ kinh tế của các doanh nhân địa phương.
Nhìn lại lịch sử Kế Long, thành phố này chưa bao giờ bị động trước biển mà luôn chủ động hướng tới biển sống. Dù là người Đại Gà Lồng thời kỳ đầu hay những doanh nhân thủy sản thế kỷ 20, người Kế Long luôn tìm kiếm trong những cơn sóng gió những hiểu biết và sức mạnh để sống chung với biển.
Đọc thêm: Tác giả địa phương Tào Khắc Tông dẫn đường qua các sản phẩm biển Kế Long: Từ văn hóa hải sản đến văn hóa biển, tạo ra một xã hội sống chung giữa con người và biển
Người chủ trì, các diễn giả và khách mời tham dự chụp ảnh kỷ niệm chung (Nguồn: Ngô Nhiên Văn hóa)



